tin chăn nuôi hiện nay

Tài liệu Hội nghị tổng kết thực hiện Chính sách hỗ trợ nâng cao hiệu quả chăn nuôi nông hộ giai đoạn 2015-2020 ĐÍNH CHÍNH THÔNG BÁO NGÀY 15/4/2021 Thông báo: Cục chăn nuôi được Bộ Nông nghiệp và PTNT giao đầu mối triển khai Chương trình giống gốc vật nuôi năm 2021 gồm chủng loại và số lượng cụ thể như sau: Theo tính toán của anh Tuấn, trung bình để có 1kg lợn hơi, người chăn nuôi phải sử dụng 2,4 - 2,6kg thức ăn, với giá thức ăn hiện nay trung bình khoảng 18.000 - 20.000 đồng/kg, tùy theo từng loại. Người Chăn Nuôi số 83+84 (Người Chăn Nuôi) - Xuất bản tháng 1+2/2022. Người Chăn Nuôi số 85 (Người Chăn Nuôi) - Xuất bản tháng 4/2022. Người Chăn Nuôi số 86 (Người Chăn Nuôi) - Xuất bản tháng 6/2022. Nuôi lợn an toàn: Không lo đầu ra. Trước vấn đề ATVSTP đang rất "nóng" hiện nay, những mô hình sản xuất nông sản sạch ngày càng được chú trọng. Trang trại chăn nuôi lợn an toàn sinh học của bà Nguyễn Thị Liên (xã Phú Cường, huyện Sóc Sơn) là một trong số đó. Vào Theo ông Trí Công, với mức giá thức ăn chăn nuôi hiện nay thì heo hơi là 60.000 đồng/kg mới hòa vốn. Trong khi, 55.000-58.000 đồng/kg là mức trung bình hiện tại khiến người chăn nuôi gặp rất nhiều khó khăn. Vị Chủ tịch hiệp hội đề cập gần như giá tất cả các mặt hàng đều đi lên, chỉ riêng thịt heo thì gần như không tăng. Site De Rencontre Amoureux En France. [Tạp chí Chăn nuôi Việt Nam] – Mặc dù gặp nhiều khó khăn do giá thức ăn chăn nuôi tăng cao, dịch bệnh còn diễn biến khó lường, giá sản phẩm chăn nuôi biến động, nhưng năm 2022, theo Cục Chăn nuôi, giá trị sản xuất chăn nuôi ước tính tăng 5,93%. Tại thời điểm tháng 12/2022, tổng đàn lợn khoảng 26,22 triệu con chưa bao gồm lợn con theo mẹ, tăng 11,4%; đàn gia cầm khoảng 551,6 triệu con, tăng 4,8%; đàn bò khoảng 6,65 triệu con, tăng 3,1% riêng đàn bò sữa 335 nghìn con. Tổng sản lượng thịt hơi xuất chuồng đạt 7,05 triệu tấn trong đó, thịt trâu 123 nghìn tấn, tăng 1,6%; thịt bò 474 nghìn tấn, tăng 3,5%; lợn 4,425 triệu tấn, tăng 5,9%; gia cầm 2,028 triệu tấn, tăng 4,5% so với cùng kỳ năm 2021; sản lượng sữa tươi 1,277 triệu tấn, tăng 10,2%; sản lượng trứng trên 18,3 tỷ quả tăng 4,4%; sản lượng TACN công nghiệp quy đổi khoảng 20,0 triệu tấn, giảm 8,6%. Đối với chăn nuôi lợn Đàn lợn của doanh nghiệp tăng trưởng nhanh Bên trong trại chăn nuôi lợn của một doanh nghiệp FDI Trong những năm qua, chăn nuôi lợn của nước ta có sự biến động lớn về tổng đàn và sản lượng thịt, trong đó tổng đàn lợn đạt cao nhất vào năm 2016 29,1 triệu con, giảm xuống 27,4 triệu con vào năm 2017 do khủng hoảng thừa, tăng trở lại vào năm 2018 28,1 triệu con, sau đó bị giảm sâu kỷ lục vào năm 2019 do dịch tả lợn Châu Phi chỉ còn 19,6 triệu con. Tổng đàn lợn dần hồi phục trong năm 2020 22,0 triệu con và tiếp tục tăng trưởng đạt 28,1 triệu con năm 2021 sản lượng thịt lợn hơi xuất chuồng đạt 4,18 triệu tấn, chiếm 62,5% trong tổng sản lượng thịt hơi của cả nước. Thời điểm tháng 11/2022, tổng đàn lợn cả nước khoảng 28,8 triệu con[1]; tại 16 doanh nghiệp chăn nuôi lợn lớn hiện đang duy trì đàn lợn trên 6 triệu con. Sản lượng thịt lợn hơi cả nước trong 11 tháng đầu năm ước đạt khoảng 4,0 triệu tấn. Dự kiến cả năm 2022, sản lượng thịt lợn hơi xuất chuồng ước đạt 4,3 triệu tấn, tăng 3,6% so với năm 2021. Đối với giống lợn Tổng đàn nái trên cả nước ước đạt trên 3,2 triệu con chiếm 11,36% tổng đàn lợn tăng 4,7% so cùng kỳ năm 2020. Trong đó, đàn cụ kỵ, ông bà nái cụ kỵ chiếm khoảng 15% và nái ông bà chiếm 85% đạt 135 nghìn con chiếm 4,21% tổng đàn nái. Đàn lợn nái cụ kỵ, ông bà gồm các giống nhập ngoại chiếm 80%; lợn nái lai giữa lợn ngoại với lợn nội và lợn nái nội thuần chiếm tỷ lệ 20% tổng đàn nái. Hằng năm, đàn lợn nái được thay thế bình quân 25%. Giai đoạn 2015 – 2020, số lượng lợn giống cụ kỵ và ông bà sản xuất trong nước để thay thế đàn khoảng 89%, còn 11% nhập khẩu để thay thế, làm tươi máu cải tiến năng suất giống trong nước. Cả nước có 467 cơ sở sản xuất và cung cấp lợn giống với 240 cơ sở nuôi giữ lợn nái giống cụ kỵ, ông bà GGP và GP, trong đó các đơn vị sự nghiệp và doanh nghiệp trong nước có 116 cơ sở với tổng đàn nái trên 48 nghìn con, chiếm 48,3% tổng cơ sở giống và 35,5% tổng đàn nái GP, GGP trong cả nước; các doanh nghiệp FDI Japfa Comfeed … có 124 cơ sở với tổng đàn nái có trên 87 nghìn con, chiếm 51,6% tổng số cơ sở giống và 64,4% tổng đàn nái GP, GGP của cả nước. Cả nước có khoảng 64 nghìn con lợn đực giống. Trong đó, số lợn đực sản xuất tinh để phối giống nhân tạo là 30,7 nghìn con 47,9%; đàn lợn đực giống phối trực tiếp là 33,3 nghìn con chiếm 52,1%, chủ yếu nuôi trong dân. Chăn nuôi gia cầm Trên 530 triệu con Thời điểm 31/12/2021, đàn gia cầm khoảng 523,6 triệu con, trong đó đàn gà trên 420 triệu con chiếm 80,0%, đàn thủy cầm trên 103 triệu con chiếm 20,0%. Tổng sản lượng thịt gia cầm đạt 1,92 triệu tấn, trong đó thịt gà chiếm 76,03%, thịt thủy cầm chiếm 23,97%. Tổng sản lượng trứng gia cầm đạt gần 17,6 tỷ quả, trong đó trứng gà chiếm 61,75%, trứng thủy cầm chiếm 38,25%. Thời điểm tháng 11/2022, tổng đàn gia cầm cả nước khoảng 533 triệu con[2]. Sản lượng thịt gia cầm hơi xuất chuồng 11 tháng đầu năm 2022 ước đạt 1,7 triệu tấn; sản lượng trứng gia cầm đạt gần 16,4 tỷ quả. Dự kiến cả năm 2022, sản lượng thịt gia cầm hơi xuất chuồng ước đạt 2,0 triệu tấn, tăng 4,2 % so với năm 2021; sản lượng trứng ước đạt 18,4 tỷ quả tăng 4,6% so với năm 2021. Đối với chăn nuôi gia súc ăn cỏ Đàn bò ước đạt gần 6,42 triệu con, trong đó đàn bò sữa trên 339 nghìn con, tập trung chủ yếu ở vùng Bắc Trung Bộ và duyên hải miền trung chiếm 37%; sản lượng thịt bò hơi ước đạt 400 nghìn tấn; sản lượng sữa bò tươi ước đạt gần 1,0 triệu tấn. Đàn trâu cả nước có khoảng 2,25 triệu con, tập trung chủ yếu các tỉnh Miền núi và Trung du chiếm 55,3%; 11 tháng đầu năm 2022, sản lượng thịt trâu ước đạt 90 nghìn tấn. Hiện nay, cả nước có trên 2,66 triệu con dê và khoảng 118 nghìn con cừu. Dự kiến cả năm 2022, sản lượng thịt gia gia súc ăn cỏ hơi xuất chuồng ước đạt 0,65 triệu tấn; sản lượng sữa tươi ước đạt 1,16 triệu tấn tăng 8,3% so với năm 2021. Về giết mổ và chế biến Ngày càng nhiều doanh nghiệp đầu tư mạnh Dây chuyền giết mổ của một doanh nghiệp giống gia cầm tại Hải Phòng Trong thời gian vừa qua, làn sóng đầu tư vào lĩnh vực giết mổ, chế biến diễn ra mạnh mẽ và được dự báo sẽ tăng trưởng nhanh trong những năm tiếp theo. Các cơ sở giết mổ gia súc, gia cầm nhỏ lẻ ngày càng giảm; cơ sở giết mổ tập trung có xu hướng tăng cả về số lượng và quy mô. Hiện nay, tỷ lệ gia súc, gia cầm được giết mổ tập trung ước khoảng 25-30% trong đó giết mổ công nghiệp khoảng 10-12%. Công suất thực tế tại các cơ sở giết mổ công nghiệp còn thấp so với công suất thiết kế dao động 30-65%. Chế biến hiện nay là công đoạn đem lại lợi nhuận nhiều nhất trong chuỗi giá trị ngành chăn nuôi. Đến hết tháng 11/2022, cả nước có 109 cơ sở, nhà máy của các doanh nghiệp chế biến thịt, trứng và sữa quy mô công nghiệp để xuất khẩu và phục vụ tiêu dùng trong nước, đáp ứng nhu cầu chế biến cho khoảng trên 1,3 triệu tấn thịt, trên 100 triệu quả trứng, hàng triệu lít sữa tươi hàng năm. Cả nước hiện có 68 nhà máy chế biến thịt các loại và sản phẩm thịt chế biến khoảng trên 1,3 triệu tấn chiếm khoảng 20-22% tổng sản lượng thịt sản xuất trong nước. Sản phẩm chế biến có giá trị gia tăng thấp chiếm 80 – 85% chế biến đơn giản, sơ chế và các sản phẩm chế biến có giá trị gia tăng cao thịt hun khói, giăm bông, xúc xích, lạp xường… chiếm khoảng 15 – 20%; sản phẩm đóng bao gói nhỏ cung cấp cho bán lẻ chiếm khoảng 10%; sản xuất thịt mát đã bắt đầu phát triển chiếm khoảng 10%. Hiện có 6 nhà máy chế biến trứng và sản lượng trứng chế biến khoảng 100 – 110 triệu quả trứng/năm, chiếm khoảng 0,7% – 0,8 % tổng sản lượng trứng sản xuất trong nước. Cả nước có 35 nhà máy chế biến sữa, trong đó phần lớn các nhà máy chế biến có công nghệ tiên tiến, tính tự động hóa cao. Hầu hết các nhà máy chế biến sữa đều chủ động liên kết vùng nguyên liệu, tạo chuỗi sản phẩm khá hiệu quả và đây là thế mạnh của ngành chế biến sữa của Việt Nam. Riêng trong năm 2022 khởi công 02 nhà máy sữa với số vốn đầu tư hơn tỷ đồng là Nhà máy chế biến sữa công nghệ cao Mộc Châu và Vinamilk. Tình hình giá vật tư và một số sản phẩm chăn nuôi Giá lợn thịt hơi Diễn biến trái với quy luật hàng năm Năm 2022, khi so sánh giá lợn thịt hơi xuất chuồng của 3 miền thì không có sự khác biệt lớn giữa các vùng. Do khả năng cung ứng khác nhau, giữa các tỉnh có sự chênh lệnh trong khoảng 2-4 nghìn đồng/kg lợn thịt hơi. Tuy nhiên, giá thịt lợn hơi xuất chuồng biến động mạnh tại các thời điểm khác nhau trong 02 năm trở lại đây. Cụ thể, từ tháng 01/2021 đến tháng 8/2021 giá lợn thịt hơi xuất chuồng giảm 30-35%, duy trì ở mức thấp 43-49 nghìn đồng/kg; đến tháng 11/2021 tăng nhẹ lên trên 50 nghìn đồng/kg; tháng 12/2021 giá tăng lên và dao động quanh mức 53-57 nghìn đồng/kg và duy trì đến trung tuần tháng 05/2022. Đến cuối tháng 6/2022, giá lợn thịt hơi xuất chuồng có xu hướng tăng và người chăn nuôi bắt đầu có lợi nhuận 2,5-3,0 nghìn đồng/kg lợn hơi. Từ đầu tháng 7/2022 đến giữa tháng 9/2022, giá lợn hơi tăng mạnh lên 60-70 nghìn đồng/kg, thậm chí có nơi giá tăng lên mức 75 nghìn đồng/kg; trong khi giá thành ở mức 56-60 nghìn đồng/kg. Từ giữa tháng 9/2022 đến nay, giá lợn hơi liên tục giảm; hiện nay dao động 53-55 nghìn/kg, phổ biến 53 nghìn đồng/kg, thấp hơn giá thành sản xuất 58-60 nghìn/kg. Một số nguyên nhân chính dẫn đến giá lợn giảm trong thời gian gần đây được nhận định là do i Nguồn cung lợn thịt tăng cao vào các tháng 9, tháng 10 và tháng 11/2022; ii Sức mua thực phẩm không cao do tình hình thu nhập của người dân bị ảnh hưởng khi lạm phát tăng lãi suất cho vay tăng, tỷ giá ngoại tệ tăng và iii Nhiều doanh nghiệp gặp khó khăn phải giảm quy mô sản xuất do chi phí nhập khẩu nguyên liệu tăng cao buộc phải giảm lao động, sức tiêu thụ thịt lợn của các khu công nghiệp giảm. So với các nước trong khu vực, tại thời điểm ngày 29/11/2022, giá lợn hơi của Campuchia dao động 42-46 nghìn đồng/kg; Myanmar 48-52 nghìn đồng, Lào 61-65 nghìn đồng, Thái Lan 70-78 nghìn đồng/kg. Tại thị trường Trung Quốc, giá lợn hơi ngay 22/11/2022 khoảng 86 nghìn đồng, ngày 29/11/2022 giá dao động 78-81 nghìn đồng, cao hơn Việt Nam khoảng 30 nghìn đồng nguồn AgroMonitor. Theo Ủy ban Cải cách và Phát triển Quốc gia Trung Quốc NDRC, giá thịt lợn tại 36 trung tâm buôn bán lớn của Trung Quốc hiện tăng 30% so với cùng kỳ năm trước. Thị trường lợn thịt biến động như trên đã tác động đến nhu cầu lợn giống. Từ tháng 01 đến tháng 6/2021, giá lợn giống luôn ở mức trên 2,4 triệu đồng/con. Tuy nhiên, sau khi giá lợn thịt giảm, giá lợn giống giảm mạnh xuống 1,4-1,6 triệu đồng/con vào tháng 8-9/2021, từ cuối tháng 10/2021 đến tháng 6/2022, giá lợn giống duy trì ở mức thấp 1,0-1,2 triệu đồng/con. Từ đầu tháng 7 đến cuối năm 2022, giá lợn giống dao động khoảng 1,4-1,7 triệu đồng/con. Giá gia cầm hơi Giá các sản phẩm chính của gia cầm cơ bản tăng đều từ tháng 2/2022 đến tháng 6/2022, tuy nhiên, trong nửa cuối năm 2022, giá một số sản phẩm theo xu hướng giảm nhất trong tháng 10, 11/2022. Giá gà thịt công nghiệp lông trắng hơi trong 11 tháng đầu năm 2022 là đối tượng biến động giá phức tạp nhất, tăng giảm nhiều nhất giá bình quân dao động từ 25-30 nghìn đồng/kg đầu năm 2022 tăng lên 33-36 nghìn đồng/kg thời điểm tháng 6,7/2022 tùy từng khu vực; hiện nay, giá đang dao động khoảng 25 – 28 nghìn đồng/kg ở miền Bắc và khoảng 34-37 nghìn đồng/kg ở miền Nam. Giá gà trắng nuôi công nghiệp của Việt Nam tương đương với giá tại các nước trong khu vực như Campuchia 33-36 nghìn đồng/kg, Thái Lan 32,5 nghìn đồng/kg, Indonesia 33 nghìn đồng/kg, Trung Quốc 33 nghìn đồng/kg. Giá con giống gà trắng công nghiệp trong các tháng đầu năm 2022 ổn định từ 6-8 nghìn đồng/con, tuy nhiên thời điểm hiện tại, giá tăng nhẹ và dao động từ 9-10 nghìn đồng/con. Trong khi đó, giá gà lông màu nuôi thả vườn không có nhiều biến động từ tháng 01/2021 đến hết quý I/2022, bình quân dao động từ 50-55 nghìn đg/kg tại miền Bắc, giá bình quân tại miền Trung và miền Nam tương đương hoặc thường cao hơn từ đồng/kg. Từ đầu quý II/2022 đến tháng 8/2022 giá gà lông màu hơi tăng lên mức 60-80 nghìn đồng/kg, cá biệt có nơi gần 90 nghìn đồng/kg, trước biến động về cung ứng nguyên liệu sản xuất, nguyên liệu thức ăn chăn nuôi, giá vật tư đầu vào tăng. Từ tháng 9/2022 đến nay, giá gà lông màu giảm và dao động 60 -65 nghìn đồng/kg. Nhóm gà thịt lông màu nuôi công nghiệp đầu năm 2022 có giá bình quân dao động từ 40-42 nghìn đồng/kg tăng lên 55-58,5 nghìn đồng/kg thời điểm tháng 6,7/2022; hiện nay giá đang dao động từ 32-38 nghìn đồng/kg. Giá con giống tăng từ 5,5-6,5 nghìn đồng/con đầu năm 2022 lên 9,5-11,5 nghìn đồng/con thời điểm tháng 6,7/2022 và hiện nay dao động từ 8,0-9,0 nghìn đồng/con. Các tháng đầu năm 2022, giá các sản phẩm từ vịt cũng tăng mạnh, trong đó giá vịt Super M hơi xuất chuồng tăng trung bình từ 34,9 nghìn đồng/kg lên 47,5 nghìn đồng/kg; giá vịt thịt Grimaud tăng trung bình từ 34,6 nghìn đồng/kg lên 48,5 nghìn đồng/kg tăng 40%. Tuy nhiên, hiện tại giá vịt thịt hơi tiếp tục theo xu hướng giảm do nguồn cung tăng cao, dao động chỉ từ 28-29 nghìn đồng/kg ở khu vực phía Bắc, còn tại các tỉnh miền Nam giá ổn định khoảng 29-30 nghìn đồng/kg. Trong năm 2022, tùy từng thời điểm giá các sản phẩm trứng gà dao động từ 1,6-2,5 nghìn đồng/quả; trứng vịt từ 2,5-3,2 nghìn đồng/quả tùy từng khu vực; giá khu vực miền Bắc cao hơn các khu vực còn lại. Giá một số sản phẩm khác Giá con giống bò nuôi thịt dao động từ 110-125 nghìn đồng/kg; giá giống bò sữa ở miền Bắc là 125 nghìn đồng/kg, miền Nam là 145 nghìn đồng/kg. Giá thịt bò hơi ở cả ba miền dao động từ 80-100 nghìn đồng/kg, hiện nay, giá thịt trâu, bò hơi giảm sâu dưới ngưỡng 60 nghìn đồng do nguồn cung dồi dào, mức tiêu thụ giảm. Giá sữa bò dao động từ 12-12,5 nghìn đồng/lít. Giá dê thịt dao động từ 120-140 nghìn đồng/kg thịt hơi. Đối với sản phẩm yến năm 2022, Trung Quốc đã ký Nghị định thư với Việt Nam về việc xuất, nhập khẩu chính ngạch sản phẩm tổ yến của Việt Nam sang thị trường Trung Quốc. Giá thức ăn chăn nuôi thành phẩm tăng cao do giá nguyên liệu thức ăn chăn nuôi lập đỉnh Giá TACN thành phẩm trung bình 11 tháng năm 2022 đều tăng so với cùng kỳ năm 2021, cụ thể thức ăn hỗn hợp hoàn chỉnh cho lợn thịt từ 60kg đến xuất chuồng khoảng 13 nghìn đồng/kg tăng 14,5%; thức ăn hỗn hợp hoàn chỉnh cho gà thịt lông màu 12,790 nghìn đồng/kg tăng 12,8%; thức ăn hỗn hợp hoàn chỉnh cho gà thịt lông trắng 13,532 nghìn đồng/kg tăng 14,2%. Tâm An Nguồn số liệu Cục Chăn nuôi ————– [1] Một số địa phương phát triển chăn nuôi lợn tốt là Đồng Nai, Hà Nội, Bình Phước, Bắc Giang, Thanh Hóa. [2] Một số địa phương có đàn gia cầm trên 20 triệu con là Hà Nội, Nghệ An, Thanh Hóa, Đồng Nai. Cục Chăn nuôi đặt mục tiêu năm 2023, giá trị sản xuất ngành chăn nuôi tăng khoảng 4,5-5,0% so với năm 2022. Tổng sản lượng thịt hơi các loại đạt khoảng 7,27 triệu tấn, tăng 4,1% trong đó, sản lượng thịt lợn hơi tăng 4,0%; sản lượng thịt gia cầm tăng 4,8%; sản lượng trứng các loại tăng khoảng 3,8%; sản lượng sữa tăng khoảng 8,0%; sản lượng mật ong tăng khoảng 7,1%; sản lượng tổ yến tăng khoảng 5,6%; sản lượng thức ăn chăn nuôi công nghiệp quy đổi đạt trên 21,0 triệu tấn, tăng 5,0% so với năm 2022. Tỷ lệ bò lai ước đạt từ 65% tổng đàn bò; tỷ lệ lợn nái ngoại 30,0%; tỷ lệ đàn lợn lai và ngoại trong tổng đàn lợn 95,5; khối lượng lợn thịt xuất chuồng đạt khoảng 85-90 kg/con. Để lại comment của bạn Khuyến nông Thú y Trồng trọt Khoa học - Công nghệ Khuyến nông Chăn nuôi Thú y Trồng trọt Khoa học - Công nghệ Chuyên gia phân bón Cùng Đầu Trâu làm giàu Phân bón thích ứng biến đổi khí hậu Xuất hiện tâm lý e ngại khi nghiên cứu khoa học bởi khúc mắc đầu ra 09/06/2023 - 1800 Báo cáo Thứ trưởng Bộ NN-PTNT Phùng Đức Tiến, lãnh đạo Viện Chăn nuôi chia sẻ, hiện có tâm lý e ngại khi nghiên cứu khoa học bởi khúc mắc về sản phẩm đầu ra. Ra bờ sông vắng vẻ lập trại nuôi gà mía, nuôi lứa nào thắng lứa đó Chăn nuôi 07/06/2023 - 1910 Không dám rời đàn gà nửa bước vì sợ mất điện Chăn nuôi 07/06/2023 - 0904 Mật ngọt từ những tán rừng ngập mặn Chăn nuôi 07/06/2023 - 0656 Mới thử nghiệm, nông dân Phú Yên đã 'kết' mô hình nuôi lươn không bùn Chăn nuôi 06/06/2023 - 1826 Xem nhiều nhất Mới thử nghiệm, nông dân Phú Yên đã 'kết' mô hình nuôi lươn không bùn Không dám rời đàn gà nửa bước vì sợ mất điện Cả tháng không thấy bóng thương lái nào đến mua trâu Cả tháng không thấy bóng thương lái nào đến mua trâu Chăn nuôi 06/06/2023 - 0615 BÌNH ĐỊNH 'Trước đây, mỗi sáng tôi phải pha bình trà to tiếp 5 - 6 thương lái đến mua trâu, nay cả tháng không thấy ai', một hộ nuôi trâu ở làng Quy Hội ca thán. Quảng Ninh hỗ trợ phát triển chăn nuôi lợn sinh sản an toàn sinh học Chăn nuôi 04/06/2023 - 0833 QUẢNG NINH Sau 2 năm triển khai, dự án hỗ trợ phát triển chăn nuôi lợn sinh sản an toàn sinh học tại xã Cộng Hòa, TP Cẩm Phả Quảng Ninh đã cho kết quả tích cực. Đa dạng loại hình chăn nuôi cải thiện thu nhập đồng bào miền núi Chăn nuôi 31/05/2023 - 1107 Huyện Ba Chẽ, Quảng Ninh vốn có thế mạnh về rừng đồi, người dân nơi đây mở ra nhiều mô hình chăn nuôi để tạo ra các sản phẩm độc đáo của địa phương. Ngỗng, chạch, cá rô đồng cứu trang trại lợn vượt qua thua lỗ1 Chăn nuôi 31/05/2023 - 0844 HƯNG YÊN Nhờ cơ cấu thêm một số vật nuôi đặc sản, anh Phan Văn Đức Việt Hòa, Khoái Châu, Hưng Yên đã bù được thua lỗ và giữ được đàn lợn vượt qua khó khăn. Chế biến sâu để nâng cao giá trị cho nhung hươu Hương Sơn Chăn nuôi 30/05/2023 - 0620 HÀ TĨNH Ngoài lan tỏa chỉ dẫn địa lý nhung hươu Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh ưu tiên đầu tư vào chế biến sâu các sản phẩm từ nhung hươu nhằm gia tăng giá trị. Hợp tác xã tặng hộ nghèo tôm giống để 'thoát nghèo mới thôi' Chăn nuôi 30/05/2023 - 0618 KIÊN GIANG Các hộ nghèo tại địa phương đủ điều kiện được Hợp tác xã Dịch vụ Nông nghiệp – Thủy sản Toàn Phát tặng tôm giống, hỗ trợ kỹ thuật nuôi để 'thoát nghèo mới thôi'. Nuôi gà ác, mang tốt lành Chăn nuôi 30/05/2023 - 0609 NGHỆ AN Gà ác dễ nuôi, sản phẩm dễ bán, giá cao. Đặc biệt, chất lượng trứng gà ác rất ngon, tuy quả nhỏ, tỉ lệ đẻ thấp hơn giống gà khác nhưng trứng thơm ngon... Thú y Phòng, chống dịch bệnh trên tôm nuôi mùa nắng nóng sao cho hiệu quả? QUẢNG NINH Sở NN-PTNT Quảng Ninh phối hợp với các địa phương trong việc phòng, chống dịch bệnh trên tôm nuôi đúng cách, hiệu quả, giảm thiểu tối đa thiệt hại cho người nuôi. Đảo lộn khi hệ thống thú y tan rã [Bài cuối] Nhiều bất cập khi phụ thuộc trung tâm dịch vụ nông nghiệp Trồng trọt Gia tăng tình trạng đốt rơm rạ sau vụ đông xuân QUẢNG TRỊ Rơm được gom thành từng đống để đốt, cháy lan cả gốc rạ. Những bờ vùng bờ thửa cháy đen, khói bay mù trời, tràn vào cả khu dân cư khiến không khí ngột ngạt. Vải không hạt gây ấn tượng mạnh Phân bón thích ứng biến đổi khí hậu Liên kết để giảm giá thành chăn nuôi, tạo lợi thế đầu ra Chăn nuôi 24/05/2023 - 1445 Tiền Giang Ngành chuyên môn khuyến cáo bà con nông dân, doanh nghiệp, hợp tác xã cần hình thành chuỗi liên kết trong chăn nuôi để giảm giá thành sản phẩm, tạo lợi thế đầu ra. Trải nghiệm nghề nuôi ong mật để xóa nghi ngờ 'mật ong đểu' Chăn nuôi 23/05/2023 - 1834 GIA LAI Mật ong sau khi thu hoạch, để một thời gian thì đường bắt đầu kết tinh và lắng xuống dưới. Không ít người thấy thế cho là mật ong giả, mật ong có pha đường. Sự thật có phải vậy? Nông dân chuyển từ nuôi bò thịt sang bò sinh sản Chăn nuôi 23/05/2023 - 1419 Đang trong giai đoạn bò thịt giảm giá nên nuôi vỗ béo không có lãi, nông dân Bình Định chuyển sang nuôi bò sinh sản để có lợi nhuận tốt hơn. Thu tiền tỉ từ nuôi vịt siêu trứng Chăn nuôi 18/05/2023 - 1336 Mô hình nuôi vịt siêu trứng giúp gia đình ông Vũ Thanh Bình, xã Huống Thượng, Thái Nguyên thu về hàng tỷ đồng mỗi năm, tạo việc làm cho nhiều lao động địa phương. Làm giàu nhờ nuôi loài 'tử thần' Chăn nuôi 16/05/2023 - 1413 Anh Dương Văn Chung, xã Tân Lợi, huyện Đồng Hỷ, Thái Nguyên sở hữu trang trại số lượng cả ngàn con rắn hổ mang có giá trị hàng trăm triệu đồng. Sửa quy định nuôi 100 con bò phải có giấy phép môi trường Chăn nuôi 16/05/2023 - 0610 Phải có giấy phép môi trường khi nuôi 100 con trâu, bò hay giết mổ từ 10 con lợn, 100 con gà trở lên đang được Bộ TN-MT lấy ý kiến sửa đổi. Nhân rộng nuôi lợn đen bản địa ở các xã nghèo Lào Cai Chăn nuôi 11/05/2023 - 0903 Với nhiều ưu điểm nổi trội, lợn đen bản địa được Lào Cai lựa chọn là vật nuôi chủ lực để hỗ trợ, tạo sinh kế cho bà con tại các xã nghèo của tỉnh. Thêm một chuỗi Feed-Farm-Food quy mô lớn trong ngành chăn nuôi Chăn nuôi 10/05/2023 - 2058 Japfa Việt Nam vừa khánh thành Nhà máy sản xuất thức ăn chăn nuôi và Nhà máy giết mổ gia cầm tại Bình Phước, qua đó hoàn thiện chuỗi cung ứng Feed-Farm-Food quy mô lớn. Nuôi ong du mục, thu hàng trăm triệu đồng Chăn nuôi 10/05/2023 - 1803 YÊN BÁI Vào mùa hoa, người nuôi ong thường phải di chuyển đàn ong hàng trăm km, đổi lại họ cũng thu về hàng trăm triệu đồng. Chăn nuôi công nghệ cao, một mũi tên trúng ba đích Chăn nuôi 10/05/2023 - 1014 Bình Định nhân rộng mô hình chăn nuôi theo hướng công nghệ cao giúp mang lại nhiều lợi ích, đảm bảo thu nhập, nâng cao chất lượng sản phẩm và bảo vệ môi trường. Nuôi ngựa chờ khách du lịch Chăn nuôi 10/05/2023 - 1011 Tại huyện Bình Liêu Quảng Ninh, mô hình chăn nuôi ngựa hướng đến phục vụ khách du lịch trong tương lai đang được anh Trình và anh Mộc mạnh dạn đầu tư. Hàng loạt trại heo gây ô nhiễm, ảnh hưởng sức khỏe 700 hộ dân Chăn nuôi 09/05/2023 - 1216 Sau khi đi vào hoạt động, nhiều trại chăn nuôi heo ở Gia Lai gây ô nhiễm môi trường khiến cho cuộc sống người dân bị đảo lộn, sức khỏe bị ảnh hưởng nghiêm trọng. Hướng đi bền vững cho vật nuôi đặc sản Chăn nuôi 08/05/2023 - 1551 Thành công từ mô hình nuôi dúi của gia đình ông Lê Trọng Lệ tạo ra chuỗi liên kết bền vững trong hoạt động chăn nuôi đặc sản giúp bà con có thu nhập cao. [Bài cuối] Gà lông màu sẽ là sinh kế chủ lực vùng trung du, miền núi Chăn nuôi 07/05/2023 - 1033 Gà lông màu là 1 trong 3 loài vật nuôi chủ lực Bình Định xác định phát triển mạnh trong thời gian tới, nhất là tại các huyện trung du, miền núi. Vỗ béo bò BBB kết hợp nuôi dê thương phẩm lãi 300 triệu đồng/năm Chăn nuôi 06/05/2023 - 0945 Vỗ béo giống bò BBB không lồ kết hợp nuôi dê thương phẩm, anh Nguyễn Thành Tạ ở Tây Sơn, Bình Định nhẩm tính lãi 300 triệu đồng mỗi năm. Bán ô tô, máy xúc để nuôi thành công lợn đen bản địa Chăn nuôi 05/05/2023 - 0615 BẮC KẠN Không ngại thay đổi, chàng trai người Nùng bỏ lối làm ăn nhỏ lẻ, đầu tư chăn nuôi lớn. Không chỉ làm giàu cho bản thân, anh đã giúp nhiều hộ có thêm sinh kế. [Bài 2] Tăng nuôi heo quy mô trang trại công nghệ cao Chăn nuôi 04/05/2023 - 1441 Heo là một trong ba vật nuôi chủ lực được Bình Định phát triển mạnh trong thời gian tới, nhưng sẽ giảm nuôi nông hộ, tăng quy mô trang trại áp dụng công nghệ cao. Đàn bò sữa giảm vì chi phí tăng cao Chăn nuôi 04/05/2023 - 1327 LÂM ĐỒNG Giá nguyên liệu đầu vào tăng cao trong khi giá sữa không thay đổi đã khiến người chăn nuôi bò sữa ở Lâm Đồng gặp khó khăn. [Bài 1] Địa phương có đàn bò lai tốp đầu cả nước Chăn nuôi 03/05/2023 - 1453 Trong 3 giống vật nuôi chủ lực được tỉnh Bình Định đặt mục tiêu phát triển trong những năm tới, với con bò sẽ tập trung hướng đến bò thịt chất lượng cao. Đoàn kết để chăn nuôi gia cầm qua cơn bĩ cực Chăn nuôi 27/04/2023 - 1627 Đó là khẳng định của Thứ trưởng Bộ NN-PTNT Phùng Đức Tiến tại Hội nghị đánh giá thực trạng chăn nuôi và đề xuất giải pháp chăn nuôi gia cầm trong tình hình mới. Dịch bệnh đàn vật nuôi giảm nhờ người dân tự ý thức phòng bệnh Chăn nuôi 27/04/2023 - 1556 KHÁNH HÒA Nhờ chủ động tiêm vacxin cho đàn gia súc, gia cầm và chăn nuôi theo hướng an toàn sinh học nên từ đầu năm đến nay, huyện Cam Lâm chưa phát sinh dịch bệnh. Xem thêm Tìm bài viết trong chuyên mục "Chăn nuôi" Khoa học - Công nghệ Trình làng giống dưa lưới lai F1 'made in Việt Nam' không thua kém hàng ngoại Giống dưa lưới Hoàng Ngân lai F1 do ASISOV chọn tạo trồng thử nghiệm tại nhiều tỉnh trong khu vực Nam Trung bộ cho năng suất bình quân đạt 3,5-4 tấn/ lãi 70-80 triệu đồng. Cơ giới đồng ruộng không thể nóng vội Đọc nhiều nhất 1 Thà nhặt đồng nát vẫn còn hơn nghề làm đậu phụ Mơ 2 Bình Thuận công nhận 4 xã về đích nông thôn mới, nông thôn mới nâng cao 3 Có một hình ảnh mực thước ở xứ Thanh cho chúng ta học tập 4 Vì sao Hàn Quốc phải nhập khẩu hàng triệu tấn viên nén từ Việt Nam? 5 Mối duyên kết nối xuyên biên giới Việt - Ý 6 Bảng giá vàng 9999 24K 18K SJC DOJI PNJ hôm nay 12/6/2023 7 Cánh bướm Lục Ngạn lan tỏa thương hiệu nông sản Bắc Giang Bình luận mới nhất Bài viết hay, rất đúng thực tế + xem thêm Gạo ST25 được công nhận là 'Gạo ngon nhì thế giới năm 2023'. Giống lúa ST25, cho đến nay, chưa có tổ chức nào công nhận là 'Giống lúa gạo chất lượng cao' ! + xem thêm Bài viết trên rất hay. Các giống lúa trên đồng ruộng của Việt Nam cần có năng suất, cần có chất lượng cao, phù hợp với thổ nhưỡng của từng vùng miền. Các kỹ sư nông nghiệp cần có công bố về các chỉ số các hàm lượng hóa học trong từng loại giống để cho thấy giống lúa mình được ưu việt hơn giống khác. + xem thêm Nếu trạm kiểm dịch được thành lập tại các địa phương sẽ là bước đột phá trong xuất khẩu sầu riêng sang Trung Quốc, giảm tải rất đáng kể cho việc kiểm dịch tại cửa khẩu, nhất là trong thời vụ cao điểm. + xem thêm Thuật ngữ giống lúa chất lượng - chất lượng cao, nên chăng thay bằng "giống lúa đạt chuẩn", sau đó là các chỉ tiêu. Ví dụ về hàm lượng protein, lipit là số 1; năng suất là số 2; độ dẻo cấp nào là số 3; thơm mức nào là số 4... Từ đó quy ra "giống đạt chuẩn" về cấp độ số 1; 2; 3 hay 4 đạt chuẩn trội số nào... chứ không thì cứ lẫn lộn, đánh đồng về chất lượng chung chung. + xem thêm Tôi muốn trồng và liên kết bao tiêu sp với cty để trồng khoai tây trên đất thị pha cát ở vùng easup-đaklak với dt thử ngiệm 5ha Mong cty tư vấn và hợp tác. + xem thêm Khổ thân con gà + xem thêm TÌNH HÌNH CHUNG Sản xuất chăn nuôi cả nước quý I năm 2022 thực hiện trong điều kiện dịch bệnh COVID-19 diễn biến phức tạp, giá nguyên vật liệu đầu vào ở mức cao, giá TACN biến động mạnh, thời tiết rét đậm, rét hại kéo dài ở các tỉnh phía Bắc đã ảnh hưởng đến sự phát triển của cây trồng và vật nuôi, thêm vào đó là giá xăng, dầu liên tục tăng đã gây áp lực đến các hoạt động sản xuất chăn nuôi cả nước. Theo báo cáo của Bộ NN&PTNT, trong quý I, đàn lợn tiếp tục đà hồi phục, dịch tả lợn châu Phi được kiểm soát và đàn gia cầm cả nước phát triển ổn định, uớc tính tổng đàn lợn đến thời điểm cuối tháng Ba tăng khoảng 4,2% so với cùng thời điểm năm 2021; sản lượng thịt lợn hơi xuất chuồng quý I ước đạt 1041,6 nghìn tấn, tăng 4,3% so với cùng kỳ năm 2021, đạt 24% kế hoạch năm 2022; đàn gia cầm của cả nước tính đến thời điểm cuối tháng Ba tăng khoảng 2,4% so với cùng thời điểm năm 2021; sản lượng thịt gia cầm hơi xuất chuồng quý I ước đạt 507,3 nghìn tấn, tăng 5,3% và đạt 25% kế hoạch cả năm 2022. Giá trị xuất khẩu các sản phẩm chăn nuôi tháng 3 năm 2022 ước đạt 30 triệu USD, đưa giá trị xuất khẩu các sản phẩm chăn nuôi 3 tháng đầu năm 2022 ước đạt 76 triệu USD, giảm 22,4% so với cùng kỳ năm 2021. Trong đó, xuất khẩu sữa và sản phẩm sữa đạt 27 triệu USD, tăng 4,8%; thịt và phụ phẩm dạng thịt và phụ phẩm ăn được sau giết mổ của động vật đạt 24 triệu USD, giảm 9,4%. Chăn nuôi trâu, bò Tình hình chăn nuôi trâu, bò trên cả nước trong quý I 2022 bị ảnh hưởng thời tiết và dịch bệnh. Thời tiết rét đậm, rét hại, băng giá, mưa tuyết trong tháng Hai tại các tỉnh miền Bắc đã khiến hàng nghìn con trâu, bò bị chết rét. Hiện nay, dịch Viêm da nổi cục đã được kiểm soát nhưng vẫn còn xảy ra tại một số tỉnh. Theo Tổng cục Thống kê, ước tính tổng số trâu của cả nước tính đến thời điểm cuối tháng Ba giảm khoảng 2%; tổng số bò tăng khoảng 1,1% so với cùng thời điểm năm 2021; sản lượng thịt trâu hơi xuất chuồng quý I ước đạt 33,9 nghìn tấn, tăng 1,1%; sản lượng thịt bò hơi xuất chuồng quý I ước đạt 128,9 nghìn tấn, tăng 3,4%; sản lượng sữa bò tươi quý I ước đạt 304,4 nghìn tấn, tăng 10,5% so với cùng kỳ năm 2021. Chăn nuôi lợn Trong quý I, đàn lợn cả nước tiếp tục đà hồi phục, dịch tả lợn châu Phi đang được kiểm soát. Tổng đàn vật nuôi và sản lượng sản xuất tại các doanh nghiệp, trang trại, hộ chăn nuôi đang dần ổn định, đặc biệt là các đơn vị chủ động được nguồn con giống, liên kết tiêu thụ sản phẩm đầu ra, đảm bảo vệ sinh, an toàn sinh học. Ước tính tổng số lợn của cả nước tính đến thời điểm cuối tháng Ba tăng khoảng 4,2% so với cùng thời điểm năm 2021; sản lượng thịt lợn hơi xuất chuồng quý I ước đạt 1041,6 nghìn tấn, tăng 4,3% so với cùng kỳ năm 2021 và đạt 24% kế hoạch năm 2022. Chăn nuôi gia cầm Nhìn chung đàn gia cầm phát triển ổn định trong quý I do khu vực hộ mở rộng quy mô chăn nuôi, khu vực doanh nghiệp phát triển tốt, dịch bệnh được kiểm soát, chỉ phát sinh một số ổ dịch nhỏ lẻ. Ước tính tổng số gia cầm của cả nước tính đến thời điểm cuối tháng Ba tăng khoảng 2,4% so với cùng thời điểm năm 2021; sản lượng thịt gia cầm hơi xuất chuồng quý I ước đạt 507,3 nghìn tấn, tăng 5,3% và đạt 25% kế hoạch năm 2022; sản lượng trứng gia cầm quý I ước đạt 4,6 tỷ quả, tăng 4,5% so với cùng kỳ năm 2021. Đến nay, toàn quốc có 27/63 tỉnh/TP chiếm 42,9% đã ban hành Nghị quyết về vùng được phép chăn nuôi; có 22 tỉnh/TP 34,9% có Nghị quyết về vùng nuôi chim yến; có 21/63 tỉnh/TP 33,3% đã ban hành chính sách hỗ trợ di dời cơ sở chăn nuôi ra khỏi khu vực không được phép chăn nuôi; 29/63 tỉnh/TP 46% đã ban hành Quyết định về mật độ chăn nuôi. 34 tỉnh/thành phố chiếm 54% ban hành kế hoạch thực hiện Chiến lược phát triển chăn nuôi, ngoài ra 10 địa phương đang xây dựng hoặc trình UNBD phê duyệt. Thú y Theo thông tin từ Cục Thú y, tính đến ngày 21/3 tình hình dịch bệnh trên gia súc và gia cầm như sau – Dịch cúm gia cầm Hiện nay, cả nước có 01 ổ dịch CGC A/H5N1 tại thành phố Hà Nội chưa qua 21 ngày; – Dịch lợn tai xanh Hiện nay, cả nước không có dịch Tai xanh; – Dịch Lở mồm long móng Hiện nay, cả nước không có dịch bệnh LMLM; – Dịch tả lợn châu Phi Hiện nay, cả nước có 100 ổ dịch tại 53 huyện của 24 tỉnh, thành phố chưa qua 21 ngày; – Dịch Viêm da nổi cục Hiện nay, cả nước có 101 ổ dịch tại 22 huyện của 05 tỉnh Quảng Ngãi, Quảng Nam, Khánh Hòa, Đắk Lắk và Bình Định chưa qua 21 ngày. Tính đến thời điểm cuối tháng Ba, ước tính tổng đàn lợn tăng khoảng 4,2% so với cùng thời điểm năm 2021; sản lượng thịt lợn hơi xuất chuồng quý I ước đạt 1041,6 nghìn tấn, tăng 4,3% so với cùng kỳ năm 2021, đạt 24% kế hoạch năm 2022; đàn gia cầm của cả nước tăng khoảng 2,4%, sản lượng thịt gia cầm hơi xuất chuồng quý I ước đạt 507,3 nghìn tấn, tăng 5,3% so với cùng thời điểm năm 2021 và đạt 25% kế hoạch cả năm 2022. THỊ TRƯỜNG CHĂN NUÔI Trên thị trường thế giới, giá lợn nạc giao tháng 4/2022 ở Chicago, Mỹ biến động giảm trong tháng qua với mức giảm 0,95 UScent/lb xuống mức 102,55 Ucent/lb. Giá thịt lợn giảm do sức mua thấp. Tại thị trường trong nước, trong tháng 3/2022, giá lợn hơi miền Bắc biến động giảm với mức giảm – đồng/kg. Cụ thể, Hưng Yên tiếp tục là địa phương dẫn đầu toàn khu vực, giao dịch ở mức đồng/kg. Tại tỉnh Bắc Giang và Phú Thọ giá thu mua lợn hơi dao động đồng/kg. Các địa phương còn lại, hiện giao dịch trong khoảng – đồng/kg. Thị trường lợn hơi khu vực miền Trung, Tây Nguyên giảm đồng/kg. Trong đó, hai tỉnh Quảng Bình và Quảng Trị ghi nhận mốc giá thấp nhất khu vực là đồng/kg. Nghệ An, Bình Định, Lâm Đồng và Đắk Lắk hiện ở mức đồng/kg. Các tỉnh thành còn lại thu mua ở mức đồng/kg. Giá lợn hơi tại miền Trung, Tây Nguyên dao động trong khoảng – đồng/kg. Tại miền Nam, giá lợn hơi giảm đồng/kg so với tháng trước. Cụ thể, mốc giá thấp nhất khu vực hiện là đồng/kg, ghi nhận tại tỉnh Bình Phước, TP HCM và Bà Rịa – Vũng Tàu. Nhiều tỉnh, thành phố neo tại mốc đồng/kg, gồm Đồng Nai, Bình Dương, Tây Ninh, Long An, Đồng Tháp, An Giang, Vĩnh Long, Cần Thơ. Giá lợn hơi tại miền Nam dao động trong khoảng – đồng/kg. Giá thu mua gà tại trại biến động trái chiều tại các vùng miền trong tháng qua. Giá gà thịt lông màu ngắn ngày miền Bắc, miền Trung và miền Nam giảm đồng/kg xuống mức – đồng/kg. Giá gà công nghiệp miền Trung và miền Nam tăng đồng/kg lên mức – đồng/kg. Giá trứng gà miền Bắc, miền Trung và miền Nam tăng 300 – 400 đồng/quả lên mức – đồng/quả. Giá trứng gà tăng do nhu cầu tiêu thụ tăng mạnh trong khi nguồn cung giảm. Giá một số nguyên liệu TACN chính như sau Ngô hạt tăng 22,7% so với CKNT; Khô dầu đậu tương tăng 13,4%; DDGS bã ngô tăng 14,3%; Bột cá tăng 14,2%;… Giá TACN thành phẩm cho lợn thịt tăng 22,5%; cho gà lông trắng tăng 28,8%; cho gà lông màu tăng 24,2% Biểu đồ. Diễn biến giá lợn, gà và vịt hơi giá tại trại tại các tỉnh phía Nam Xem chi tiết tại THỊ TRƯỜNG XUẤT KHẨU Sản phẩm chăn nuôi Giá trị xuất khẩu các sản phẩm chăn nuôi tháng 3 năm 2022 ước đạt 30 triệu USD, đưa giá trị xuất khẩu các sản phẩm chăn nuôi 3 tháng đầu năm 2022 ước đạt 76 triệu USD, giảm 22,4% so với cùng kỳ năm 2021. Trong đó, xuất khẩu sữa và sản phẩm sữa đạt 27 triệu USD, tăng 4,8%; thịt và phụ phẩm dạng thịt và phụ phẩm ăn được sau giết mổ của động vật đạt 24 triệu USD, giảm 9,4%. Thức ăn gia súc và nguyên liệu Theo số liệu thống kê sơ bộ của Tổng cục Hải quan, xuất khẩu nhóm hàng thức ăn gia súc và nguyên liệu tháng 3/2022 đạt gần 110,95 triệu USD, tăng mạnh 42,3% so với tháng 2/2022 và tăng 22,5% so với tháng 3/2021. Tính chung cả quý I/2022 xuất khẩu nhóm hàng này đạt 272,55 triệu USD, tăng mạnh 35,5% so với quý I/2021. Trung Quốc luôn là thị trường tiêu thụ nhiều nhất các loại thức ăn gia súc và nguyên liệu của Việt Nam, chiếm 45,9% trong tổng kim ngạch xuất khẩu nhóm hàng này của cả nước, đạt trên 125,18 triệu USD, tăng mạnh 140,8% so với quý I/2021; trong đó riêng tháng 3/2022 đạt 56,46 triệu USD, tăng 48,8% so với tháng 2/2022 và tăng mạnh 59,3% so với tháng 3/2021. Tiếp sau đó là thị trường Campuchia chiếm tỷ trọng 11,7%, đạt gần 31,88 triệu USD, giảm 5,3%; riêng tháng 3/2022 xuất khẩu sang thị trường này đạt 11,91 triệu USD, tăng 38,4% so với tháng 2/2022 nhưng giảm 11,8% so với tháng 3/2021. Xuất khẩu nhóm hàng thức ăn gia súc và nguyên liệu sang thị trường Mỹ trong tháng 3/2022 tăng mạnh trở lại, tăng 37% so với tháng 2/2022 và cũng tăng 30% so với tháng 3/2021, đạt 12,29 triệu USD; tính chung cả quý I/2022 xuất khẩu sang thị trường này cũng tăng mạnh 31,9% so với quý I/2021; đạt 31,22 triệu USD, chiếm 11,5% trong tổng kim ngạch. Xuất khẩu thức ăn gia súc và nguyên liệu sang thị trường FTA RCEP quý I/2022 tăng mạnh 63,7% so với quý I/2021, đạt 211,75 triệu USD; Xuất khẩu sang thị trường FTA CPTTP tăng 11,2%, đạt 22,84 triệu USD. Xuất khẩu thức ăn gia súc và nguyên liệu quý I/2022 Theo số liệu công bố ngày 12/4/2022 của TCHQ. ĐVT USD XK sắn & các SP từ sắn Theo số liệu thống kê từ Tổng cục Hải quan, xuất khẩu sắn và các sản phẩm từ sắn 3 tháng đầu năm 2022 đạt trên tấn, tương đương 413,06 triệu USD, giá trung bình 431,7 USD/tấn, giảm 4% về khối lượng nhưng tăng 12% về kim ngạch và tăng 16,7% về giá so với 3 tháng đầu năm 2021. Riêng tháng 3/2022 ước đạt tấn, tương đương 198,61 triệu USD, giá trung bình 444,3 USD/tấn, tăng mạnh 79,4% về lượng, tăng 94% kim ngạch và tăng 8,2% về giá so với tháng 2/2022; so với tháng 3/2021 cũng tăng 42,8% về lượng, tăng 70,2% kim ngạch và tăng 19,2% về giá. Trong tháng 3/2022, riêng xuất khẩu sắn lát ước đạt tấn, tương đương 40,92 triệu USD, giá trung bình 301,5 USD/tấn, tăng 31,8% về lượng, tăng 38,3% về kim ngạch và tăng 4,9% về giá so với tháng 2/2022. Tính chung cả 3 tháng, xuất khẩu sắn lát tấn, tương đương 91,68 triệu USD, giá trung bình 288,7 USD/tấn, giảm 23% về lượng, giảm 11,2% về kim ngạch nhưng tăng 15,3% về giá so với 3 tháng đầu năm 2021. Sắn và các sản phẩm từ sắn xuất khẩu hầu hết sang thị trường Trung Quốc chiếm 93% trong tổng lượng và kim ngạch xuất khẩu nhóm hàng này của cả nước, đạt tấn, tương đương 382,29 triệu USD, giảm 6,7% về lượng nhưng tăng 9,7% về kim ngạch so với cùng kỳ năm 2021, giá xuất khẩu sang thị trường này tăng 17,5%, đạt trung bình 431,5 USD/tấn. Trung Quốc là thị trường xuất khẩu chính của Việt Nam, còn lại các thị trường như Hàn Quốc, Đông Nam Á, Đài Loan, Nhật Bản. Theo dự báo của Cục Xuất nhập khẩu Bộ Công Thương, năm 2022, Trung Quốc sẽ có nhu cầu nhập khẩu sắn lớn hơn nữa và sẽ nhập khẩu nhiều hơn sắn và các sản phẩm từ sắn của Việt Nam do điều kiện địa lý thuận lợi. Tuy nhiên, xuất khẩu sắn và các sản phẩm từ sắn sang Trung Quốc sắp tới sẽ gặp nhiều khó khăn vì hàng loạt quy định, tiêu chuẩn mới được Tổng cục Hải quan Trung Quốc ban hành và áp dụng từ đầu năm 2022. Dù là ngành hàng xuất khẩu thu về cả tỷ USD mỗi năm, song ngành sắn cũng còn không ít hạn chế, tồn tại gây ảnh hưởng tới sự phát triển bền vững. Sắn và các sản phẩm từ sắn của nước ta phụ thuộc gần như hoàn toàn vào thị trường Trung Quốc, điều này dẫn đến sự thiếu bền vững và bị động. Bên cạnh đó, thị trường tiêu thụ sắn và sản phẩm từ sắn của Việt Nam có nhiều khâu trung gian, chi phí logistics của Việt Nam cao nên tính cạnh tranh quốc gia thấp; hiện phải canh tranh gay gắt về thị trường xuất khẩu từ các nước Thái Lan, Campuchia, Lào. Ngoài ra, tiêu thụ sắn và sản phẩm sắn trong nước chỉ chiếm khoảng 30% tổng sản lượng sắn dùng chế biến thức ăn chăn nuôi, làm thức ăn cho gia súc, nguyên liệu đầu vào cho công nghiệp, sản xuất cồn rượu, bột ngọt, mỳ ăn liền, đường lỏng, tinh bột biến tính, bánh kẹo. Trong khi đó, Việt Nam lại phải nhập khẩu khá nhiều nguyên liệu chế biến thức ăn chăn nuôi, nguyên liệu dung trong công nghiệp chế biến thực phẩm. Theo Cục Trồng trọt – Bộ NN&PTNT, năm 2021 diện tích sắn cả nước đạt ha, tập trung chủ yếu tại 5 vùng chính gồm Trung du miền núi phía Bắc, vùng Bắc Trung Bộ, duyên hải Nam Trung Bộ, Tây Nguyên và Đông Nam Bộ. Tổng sản lượng sắn cả nước ước đạt gần 10,7 triệu tấn với năng suất bình quân 20,3 tấn/ha. Đến nay, có 27 tỉnh, thành phố có nhà máy chế biến tinh bột sắn và có khoảng 120 nhà máy chế biến tinh bột sắn quy mô công nghiệp, tổng công suất thiết kế 11,3 triệu tấn củ tươi/năm, tổng công suất thực tế 8,62 triệu tấn/năm. Xuất khẩu sắn và sản phẩm sắn 3 tháng đầu năm 2022 Tính toán từ số liệu công bố ngày 12/4/2022 của TCHQ Nguồn Vinanet/VITIC THỊ TRƯỜNG NHẬP KHẨU Sản phẩm chăn nuôi Ước giá trị nhập khẩu sản phẩm chăn nuôi tháng 3 năm 2022 đạt 258 triệu USD, đưa tổng giá trị nhập khẩu sản phẩm chăn nuôi 3 tháng đầu năm 2022 đạt 726,3 triệu USD, giảm 15,5% so với cùng kỳ năm 2021. Trong đó, giá trị nhập khẩu sữa và các sản phẩm sữa ước đạt 337,7 triệu USD, tăng 18,2%; giá trị nhập khẩu của thịt, phụ phẩm dạng thịt và phụ phẩm ăn được sau giết mổ của động vật ước đạt 312,7 triệu USD, giảm 7,6%. Thức ăn gia súc và nguyên liệu Quý I/2022 nhập khẩu nhóm hàng thức ăn chăn nuôi đạt trên 1,04 tỷ USD, giảm 14% so với quý I/2021. Theo số liệu thống kê sơ bộ của Tổng cục Hải quan, nhập khẩu nhóm hàng thức ăn chăn nuôi về Việt Nam tháng 3/2022 tăng mạnh 49,6% so với tháng 2/2022, đạt 412,82 triệu USD, nhưng so với tháng 3/2021 thì giảm 21,7%. Tính chung cả quý I/2022 nhập khẩu nhóm hàng này đạt trên 1,04 tỷ USD, giảm 14% so với quý I/2021. Achentina luôn là thị trường hàng đầu cung cấp thức ăn chăn nuôi cho Việt Nam, chiếm 25,4% trong tổng kim ngạch nhập khẩu nhóm hàng này của cả nước, đạt gần 264,29 triệu USD, giảm mạnh 31,9% so với quý I/2021; trong đó riêng tháng 3/2022 đạt 97,4 triệu USD, tăng 29,6% so với tháng 2/2022 nhưng giảm mạnh 51,9% so với tháng 3/2021. Tiếp sau đó là thị trường Brazil chiếm tỷ trọng 20,2%, đạt trên 210,29 triệu USD, tăng mạnh 637,9%; riêng tháng 3/2022 nhập khẩu từ thị trường này đạt 90,34 triệu USD, tăng 99% so với tháng 2/2022 và tăng mạnh 418,8% so với tháng 3/2021. Tiếp đến thị trường Mỹ trong tháng 3/2022 tăng mạnh 54,8% so với tháng 2/2022 nhưng giảm mạnh 36% so với tháng 3/2021, đạt 62,16 triệu USD; cộng chung cả quý I/2022 nhập khẩu từ thị trường này giảm mạnh 46,8% so với quý I/2021; đạt 146,4 triệu USD, chiếm trên 14% trong tổng kim ngạch. Bên cạnh đó, nhập khẩu thức ăn chăn nuôi từ EU quý I/2022 giảm 16,6% so với quý I/2021, đạt 92,03 triệu USD; Nhập từ thị trường Đông Nam Á tăng 8%, đạt 91,28 triệu USD. Ở chiều ngược lại, xuất khẩu thức ăn chăn nuôi sang các thị trường trong tháng 3/2022 đạt 110,95 triệu USD, tăng 42,3% so với tháng 2/2022; tính chung cả quý I/2022 xuất khẩu đạt 272,55 triệu USD, tăng 35,5% so với quý I/2021. Như vậy Việt Nam nhập siêu nhóm hàng thức ăn chăn nuôi 767,98 triệu USD, giảm 23,9% so với quý I/2021. Nhập khẩu thức ăn chăn nuôi quý I/2022 Theo số liệu công bố ngày 12/4/2022 của TCHQ. ĐVT USD Đậu tương Theo thống kê sơ bộ của Tổng cục Hải quan, nhập khẩu đậu tương trong tháng 3/2022 đạt tấn, tương đương 104,63 triệu USD, giá trung bình 687,4 USD/tấn, giảm 19% về lượng và giảm 11% kim ngạch; nhưng giá tăng 9,8% so với tháng 2/2022; so với cùng tháng năm 2021 thì giảm 9,5% về lượng, nhưng tăng 11% về kim ngạch và tăng 22,7% về giá. Tính chung 3 tháng đầu năm 2022 cả nước nhập khẩu tấn đậu tương, trị giá 334,34 triệu USD, giá trung bình 637,6 USD/tấn, giảm 0,7% về lượng nhưng tăng 17% kim ngạch và tăng 17,9% về giá so với cùng kỳ năm 2021. Đậu tương nhập khẩu về Việt Nam từ thị trường Brazil nhiều nhất, trong tháng 3/2022 tiếp tục giảm mạnh 48,4% về lượng và giảm 41,8% về kim ngạch, nhưng giá tăng 12,6% so với tháng 2/2022, đạt tấn, tương đương 49,62 triệu USD, giá 702 USD/tấn; Tính chung, 3 tháng đầu năm nhập khẩu từ thị trường này đạt tấn, tương đương 179,81 triệu USD, chiếm gần 54% trong tổng lượng và tổng kim ngạch nhập khẩu đậu tương của cả nước. Ngược lại, nhập khẩu đậu tương từ thị trường Mỹ – thị trường lớn thứ 2 trong tháng 3/2022 tăng mạnh trở lại, tăng 90,3% về lượng và tăng 106,7% kim ngạch so với tháng 2/2022 và giá tăng 8,6%, đạt tấn, tương đương 49,8 triệu USD, giá trung bình 669,6 USD/tấn. Tính chung cả 3 tháng đầu năm, nhập khẩu từ thị trường này đạt tấn, tương đương 129,89 triệu USD, giá 627,3 USD/tấn, chiếm 39,5% trong tổng lượng và tổng kim ngạch nhập khẩu đậu tương của cả nước, giảm 58,4% về lượng, giảm 51,6% % về kim ngạch nhưng giá tăng 16,3% so với cùng kỳ năm trước. Ngoài ra, nhập khẩu đậu tương từ thị trường Canada 3 tháng đầu năm đạt tấn, tương đương 21,17 triệu USD, giá 661,4 USD/tấn, tăng 3,9% về lượng, tăng 60,3% về kim ngạch và giá tăng 14,6% so với cùng kỳ năm trước. Nhập khẩu từ thị trường Campuchia đạt tấn, tương đương 3,28 triệu USD, giá 731,7 USD/tấn, tăng cả về lượng, kim ngạch và giá, với mức tăng tương ứng 459,8%, 542,4% và 17,8%. Nhập khẩu đậu tương 3 tháng đầu năm 2022 Tính toán theo số liệu công bố ngày 12/4/2022 của TCHQ Lúa mì Quý I/2022 lượng lúa mì nhập khẩu của cả nước đạt trên 1,06 triệu tấn, tương đương trên 384,19 triệu USD. Theo thống kê sơ bộ của Tổng cục Hải quan, trong tháng 3/2022 cả nước nhập khẩu tấn lúa mì, tương đương 176,18 triệu USD, giá trung bình 366,4 USD/tấn, tăng mạnh 94,3% về lượng, tăng 86,6% về kim ngạch nhưng giảm 4% về giá so với tháng 2/2022. So với tháng 3/2021 thì tăng cả về lượng, kim ngạch và giá, với mức tăng tương ứng 1,2%, 32% và 30,6%. Trong tháng 3/2022 nhập khẩu lúa mì từ thị trường chủ đạo Australia tăng mạnh 230% về lượng và tăng 242,5% về kim ngạch so với tháng 2/2022, đạt tấn, tương đương 135,68 triệu USD; so với tháng 3/2021 thì giảm nhẹ 0,09% về lượng, nhưng tăng 30% kim ngạch. Nhập khẩu lúa mì từ thị trường Brazil cũng tăng mạnh 220% về lượng và tăng 223% kim ngạch, đạt tấn, tương đương 32,47 triệu USD; nhưng so với tháng 3/2021 cũng tăng 54% về lượng, tăng 110,5% kim ngạch. Tính chung cả quý I/2022 lượng lúa mì nhập khẩu của cả nước đạt trên 1,06 triệu tấn, tương đương trên 384,19 triệu USD, giảm 12% về khối lượng, nhưng tăng 19,6% về kim ngạch so với quý I/2021, giá trung bình đạt 363,3 USD/tấn, tăng 36%. Việt Nam nhập khẩu lúa mì phần lớn từ thị trường Australia, chiếm % trong tổng lượng và tổng kim ngạch lúa mì nhập khẩu của cả nước, đạt tấn, tương đương 254,56 triệu USD, giá trung bình 365,2 USD/tấn, giảm 17,7% về lượng, nhưng tăng 10,4% về kim ngạch và tăng 34% về giá so với quý I/2021. Tiếp sau đó là thị trường Brazil chiếm trên 18,2% trong tổng lượng và chiếm 16,9% trong tổng kim ngạch, đạt tấn, tương đương 65,04 triệu USD, giá trung bình 338,7 USD/tấn, giảm 12,8% về lượng, nhưng tăng 24,2% về kim ngạch và tăng 42,3% về giá so với quý I/2021. Thị trường Mỹ đứng thứ 3 đạt tấn, tương đương 34,86 triệu USD, giá 449 USD/tấn, tăng mạnh 84,8% về lượng và tăng 187,6% kim ngạch và tăng 55,7% về giá so với cùng kỳ, chiếm 7,3% trong tổng lượng và chiếm 9% trong tổng kim ngạch nhập khẩu lúa mì của cả nước. Nhìn chung, trong quý I/2022 kim ngạch nhập khẩu lúa mì từ đa số các thị trường tăng mạnh so với quý I/2021. Nhập khẩu lúa mì quý I/2022 Tính toán theo số liệu công bố ngày 12/4/2022 của TCHQ Ngô Theo thống kê sơ bộ của Tổng cục Hải quan, nhập khẩu ngô các loại trong tháng 3/2022 đạt tấn ngô, tương đương 173,35 triệu USD, giá trung bình 336 USD/tấn, tăng 1,7 % về lượng, tăng 5,8% kim ngạch và giá tăng 4% so với tháng 2/2022; so với cùng tháng năm 2021 thì giảm mạnh 50,9% về lượng, giảm 40,2% về kim ngạch nhưng tăng 21,8% về giá. Tính chung quý I/2022 nhập khẩu ngô đạt gần 2,09 triệu tấn, trị giá 677,53 triệu USD, giá trung bình 324,6 USD/tấn, giảm 23,8% về lượng, nhưng tăng 0,9% kim ngạch và tăng 32,4% về giá so với cùng kỳ năm 2021. Ngô nhập khẩu về Việt Nam nhiều nhất từ thị trường Achentina, trong tháng 3/2022 sụt giảm mạnh 33,9% về lượng và giảm 28,7% về kim ngạch, nhưng giá tăng 7,8% so với tháng 2/2022, đạt tấn, tương đương 52,69 triệu USD, giá 354 USD/tấn; so với tháng 3/2021 cũng giảm mạnh 54% về lượng, giảm 41,5% về kim ngạch nhưng giá tăng 27%. Tính chung, quý I/2022 nhập khẩu từ thị trường này tăng mạnh cả về lượng, kim ngạch và giá, với mức tăng tương ứng 75,5%, 120,4% và 25,5%, đạt tấn, tương đương 319,03 triệu USD, chiếm 46,4% trong tổng lượng và chiếm 47% trong tổng kim ngạch nhập khẩu ngô của cả nước. Nhập khẩu ngô từ thị trường Ấn Độ trong tháng 3/2022 tăng mạnh trên 39% cả về lượng và kim ngạch so với tháng 2/2022, nhưng giá giảm nhẹ 0,2%, đạt tấn, tương đương 44,7 triệu USD, giá trung bình 308,2 USD/tấn. Tính chung cả quý I/2022, nhập khẩu từ thị trường này đạt tấn, tương đương 155,85 triệu USD, giá 308,3 USD/tấn, chiếm 24,2% trong tổng lượng và chiếm 23% trong tổng kim ngạch nhập khẩu ngô của cả nước, tăng 16,2% về lượng, tăng 34,5% về kim ngạch và giá tăng 15,8% so với cùng kỳ năm trước. Nhập khẩu ngô từ thị trường Brazil quý I/2022 đạt tấn, tương đương 99,06 triệu USD, giá 320,5 USD/tấn, chiếm gần 15% trong tổng lượng và tổng kim ngạch nhập khẩu ngô của cả nước, giảm 76,3% về lượng, giảm 65,2% về kim ngạch nhưng giá tăng 46,9% so với cùng kỳ năm trước. Nhập khẩu ngô quý I/2022 Tính toán theo số liệu công bố ngày 12/4/2022 của TCHQ Nguồn tin Top công ty chăn nuôi lợn lớn nhất thế giới năm 2022Danh sách top 50 công ty chăn nuôi heo có tổng đàn nái trên nái lớn nhất thế giới năm 2022. Nguồn World Mega Producer, Pork Commentary, Genesus Inc, 06/06/ kê chăn nuôi Việt Nam năm 2021Thống kê chăn nuôi Việt Nam năm 2021 về số lượng đầu con và sản phẩm gia súc, gia cầm Nguồn TCTK, tháng 6/2022.Top công ty chăn nuôi heo nái lớn nhất thế giới năm 2020Danh sách top 40 công ty chăn nuôi heo có tổng đàn nái trên nái lớn nhất thế giới năm 2020. Nguồn World Mega Producer, Pork Commentary, Genesus Inc, 08/06/ kê chăn nuôi Việt Nam 01/01/2021Thống kê chăn nuôi Việt Nam 01/01/2021 về số lượng đầu con và sản phẩm gia súc, gia cầm Nguồn TCTK, tháng 4/2021.Thống kê chăn nuôi Việt Nam 01/01/2020Thống kê chăn nuôi Việt Nam 01/01/2020 về số lượng đầu con và sản phẩm gia súc, gia cầm Nguồn TCTK, tháng 6/2020.Thống kê hộ nuôi lợn 2019Thống kê số hộ nuôi lợn cả nước theo kết quả điều tra 01/04/2019 Nguồn Tổng Cục Thống kê.Thống kê chăn nuôi Việt Nam 01/10/2018Thống kê chăn nuôi Việt Nam 01/10/2018 về số lượng đầu con và sản phẩm gia súc, gia cầm Nguồn TCTK, tháng 1/2019.Thống kê chăn nuôi Việt Nam 01/04/2018Thống kê chăn nuôi Việt Nam 01/04/2018 về số lượng đầu con và sản phẩm gia súc, gia cầm Nguồn TCTK, tháng 6/2018. © 2013 được phát triển bởi Viện Công Nghệ Sáng Tạo - Email dohuuphuong2010 - ĐT Trang chủ

tin chăn nuôi hiện nay